|
|
Ngôn Ngữ - Ký Ức và Thi Ca Truyền Khẩu Việt Nam Võ Thu TinhVề phương diện ngôn ngữ, có thể chia văn
chương
truyền khẩu thành hai loại: Loại văn vần có
hình thể cố định, như ca dao, dân ca... lời được
lưu truyền nguyên văn, không thay đổi, đồng
thời vì luôn luôn ngắn gọn và có nhiều vần, nên được
tiếp nhận dễ dàng và được ghi khắc vào
ký ức của người nghe một cách lâu dài. Và
loại văn xuôi có hình thể không cố định, như
các truyện thần thoại, huyền thoại, cổ
tích, truyện kể, lời văn không cố định,
cùng một cốt chuyện như nhau, mà khi kể, mỗi
người lại dùng lối văn riêng của mình, không
ai giống ai. Khi nghe kể xong, người ta chỉ
nhớ cốt chuyện mà thôi, chớ không mấy ai
nhớ hết các lời văn xuôi mà người kể đã
dùng. Paul Valéry giải thích hiện tượng ấy như
sau: "Ngôn ngữ mà tôi vừa dùng để diễn đạt
một ý đồ, một sự mong muốn, một
mệnh lệnh, một ý kiến, một thỉnh cầu
hay một giải đáp của tôi, các câu văn xuôi
ấy, một khi vừa làm xong nhiệm vụ truyền đạt
của chúng, tức khắc sẽ biến mất. Tôi đã
thốt các câu văn xuôi ấy ra, là để cho chúng nó
tiêu tan đi và dứt khoát biến nhập vào trong trí óc các
anh... Nếu các anh đã hiểu được những
lời tôi nói rồi, thì những lời ấy không còn
cần thiết gì đối với các anh nữa, chúng đã
biến vào tâm tư các anh, và để bù lại, các anh đã
nhận được của tôi, dưới hình thức
các tư tưởng và các ý thức liên hệ, những gì để
các anh có thể phục nguyên lại ý nghĩa trong những
lời văn xuôi mà tôi đã dùng, bằng những lời văn
của chính các anh thốt ra, và những lời ấy có
thể khác với những lời của tôi vừa nói đó
".(1)
Nếu
một câu chuyện quá dài, khó nhớ, dân gian ta thường
xen vào ở mỗi đoạn chính của câu chuyện
ấy một vài "câu thơ" ngắn để làm
mốc, nhờ đó về
sau, người nghe có thể nhớ lại các diễn
biến của cốt chuyện dễ dàng hơn. Chẳng
hạn trong một cổ tích dài như chuyện Tấm
Cám, ở mỗi sự việc chính đều có một
vài "câu thơ" kèm theo, ví dụ như:
Đoạn đầu, Tấm nuôi cá bống của Phật cho:
Cái bống là cái bống bang !
Đoạn Tấm bị dì ghẻ giết, hóa ra chim hoàng oanh:
Giặt áo chồng tao,
Đoạn gần cuối, Tấm
lại bị giết, lần nầy Tấm hoá ra trái thị:
Hú trái thị rơi bị bà già,
Trong Introduction à la poésie orale
(Nhập môn thi ca truyền khẩu), giáo sư Paul Zumthor
nhận xét rằng: "Người ta có thể ngờ
rằng trong lịch sử đã không bao giờ có một
nền văn hóa nào mà không có thi ca truyền khẩu" (2). Và
Jean-Louis Joubert, trong La Poésie (Thi Ca), đã xác nhận
thêm: "Khi chưa có chữ viết, người ta
phải cầu đến thi ca truyền khẩu để
ghi lại và vĩnh cửu hóa những gì con người đã
nói hay đã nghĩ. [...] Và lời nói bảo tồn lâu
cũng bằng chữ viết, có khi lại còn lâu hơn
chữ viết nữa." (3)
Thi ca truyền khẩu là một "thuật nhớ"
(mnémotechnique), là "ký ức" của những dân
tộc không có chữ viết. Dân ta từ xưa cũng có
câu:
Trăm năm bia đá vẫn mòn,
Nhà thơ dùng "chữ viết ",
khi sáng tác chỉ có một mình. Viết xong, còn có thì giờ
sửa tới sửa lui. Tác phẩm "thơ chữ
viết" là một sở hữu riêng của tác giả.
Còn ở thơ truyền khẩu, dân gian khi sáng tác thường
đối diện với nhiều người và phải
ứng tác các câu ca dao, dân ca
tức khắc và ngay tại chỗ. Nếu các câu ứng
tác ấy được dân gian cho là hay, là đúng với
tâm tình, ước vọng của mình, thì họ đem các
câu ấy ra lặp lại (hay đọc lại) nguyên văn,
không thay đổi, để đối đáp với nhau
trong những dịp hò hát về sau. Paul Zumthor cho rằng:
"Thơ truyền khẩu là một công trình "đọc
lại" hơn là một công trình "sáng tạo".
(4) Tất nhiên, ở thi ca truyền khẩu Việt Nam,
cũng như ở thi ca truyền khẩu của bất
cứ dân tộc nào, lúc đầu hẳn cũng phải
có ngưới "sáng tạo" ra, rồi dân gian về
sau mới có mà " lặp lại" hay "đọc
lại". Những người sáng tạo ra thơ
truyền khẩu của dân ta là những người sinh
sống ở nông thôn: cày ruộng, làm công, làm thợ... và đáng
kể nhất là các hàn Nho. Hàn Nho là những nhà Nho nghèo (hàn)
sinh ra ở thôn quê, lớn lên ở thôn quê. Chính họ là
những người mà đời sống đã gắn
liền với xóm làng, với bà con, láng giềng, thân
thuộc chân lấm tay bùn, để chia xẻ, từ
những nỗi khó khăn thường ngày, đến
những lối suy cảm, những niềm vui buồn sâu
xa của con người nông thôn Việt Nam. Những
dịp hội hè, nhóm họp, hát xướng, họ đều
có mặt. Chính họ là những người đã
"gà" thơ cho trai, gái trong làng hát đối đáp
với nhau, tức là đã dự một phần lớn và
quan trọng vào công việc "sáng tác nguyên thủy".
Những câu ý hay, lời đẹp của họ đã được
truyền miệng từ anh trai cày đến chị
thợ cấy, đem lại cho các nhà thơ bình dân vô danh
khác bao nhiêu nguồn cảm hứng để sáng tác thêm.
Chính Nguyễn Du lúc thiếu thời đã từng bao nhiêu năm
đi hát phường vải, đã từng ứng tác câu
hát, lời ca cho nam nữ thanh niên. Trong Truyện Kiều,
ai biết được có bao nhiêu câu giống ca dao, hay có
bao nhiêu câu Kiều ngày nay đã trở thành các câu ca dao? Nhưng
thường cũng có trường hợp, dân gian, trong khi
lặp lại các câu đã được ứng tác từ
trước, đã tự động sửa đổi đi
ít nhiều. (Sửa đổi cũng có thể coi như
một công trình "sáng tạo", nhưng ở phạm
vi nhỏ hẹp hơn mà thôi). Sửa đi sửa lại
nhiều lần như thế, đến khi lời thơ
được xem như là hoàn hảo rồi, thì hình
thể câu ca dao hay dân ca sẽ được cố định
và được dân gian lưu truyền lâu dài, sâu rộng
hơn. Thi ca truyền khẩu không phải là tư hữu
của một cá nhân nào, mà là kết quả của sự
cọng tác trong thời gian, trong không gian, giữa nhiều
người trong dân chúng.
Thi ca truyền khẩu gồm có ca dao và
dân ca... Song hai loại nầy khác nhau thế nào? Ca dao
vốn là bài hát suông không có đệm tiếng nhạc, là
những câu hát theo giọng điệu tự nhiên, lưu
hành trong nông thôn để bày tỏ tình tự của dân
gian. Còn dân ca là những bài hát theo một làn điệu
nhất định, như hát xoan Phú-thọ, hát phường
vải Nghệ Tĩnh, hát quan họ Bắc-ninh, hát bài chòi
Bình-định, hát ca lý Nam phần... hay hò cấy lúa, giã
gạo, chèo đò, kéo gỗ... phần lớn để
vừa tỏ tâm tình, lại vừa giúp cho quên mệt
nhọc trong khi lao tác. Dân ca có nhiều tiếng láy,
tiếng đệm, hay tiếng hò, tiếng xô ở điệp
khúc, để đưa hơi, đưa giọng cho
dễ hát. Nếu gạn bỏ các tiếng láy, đệm,
hò, xô ấy đi, thì những lời còn lại hình thể
giống như những câu ca dao. Hay ngược lại.
Chẳng hạn như câu ca dao:
Thương em cho nửa trái cau,
Nếu đem ra hò theo dân ca, điệu
"hò hụi Kiên Giang" Nam phần, thì phải thêm các tiếng đệm,
láy, hò, xô như sau: Xô : " (Hò hụi là là hụi hố
khoan. Khoan hố khoan hố khoan ơ hò hụi). Kể : (Là
anh có) thương em, Xô : (Là là khoan hố khoan, hố khoan ơ
hò hụi). Kể : Cho nửa trái cau, Xô : (Là là khoan hố
khoan, hố khoan ơ hò hụi.) Kể : Giấu cha
giấu mẹ, Xô : (Là là khoan hố khoan, hố khoan ơ hò
hụi). Kể : Núp sau bóng đèn ".
Hoặc mấy câu dân ca theo điệu
"quan họ" Bắc Ninh dưới đây: " (Tình
bằng có cái) trống cơm, (khen ai) khéo vỗ (ấy
mấy vông) nên vông (ấy mấy vông nên vông). Một
bầy (tang tình) con sít lội (lội lội) sông (ấy
mấy) đi tìm. (Em nhớ) thương ai (đôi) con
mắt (ấy mà) lim dim. Một bầy (tang tình) con nhện
(í ớ a, ấy mấy) đi tìm (đi tìm, ấy mấy)
giăng tơ ".
Gạn bỏ các tiếng láy, đệm,
hò, thì có hình thể giống như ca dao:
Trống cơm khéo vỗ nên vông,
Chú giải : (a) Con
sít = loại chim sống trong ruộng nước, lông xanh,
mõ đỏ, hay ăn lúa.
Trên thực tế, ngày nay khi ghi lại một bài dân ca,
người ta chỉ ghi các lời ca hình thể giống như một
bài ca dao, không ghi các tiếng láy, tiếng đệm,
tiếng hò, tiếng xô, v.v...
Nhà thơ
dân gian phải ứng khẫu tức khắc và ngay tại
chỗ trước mặt mọi người, không có thì
giờ để suy nghĩ, tìm tòi những gì mới
lạ hơn... mà chỉ có thể dựa vào những điều
mình đã biết, đã nhớ, những gì đã có sẵn
trong trí, trong tiềm thức, trong ký ức của mình. Đối
tượng của thi ca truyền khẩu là dân chúng thôn
quê, vì vậy những điều mà ca dao, dân ca nói lên còn
phải bắt nguồn từ trong tâm tình, ý nghĩ, ước
vọng chung của dân tộc Việt Nam, thì mới được
dân gian cảm thông, tiếp nhận một cách dễ dàng.
Những điều dân ca, ca dao nêu ra có tính cách như là
những câu trả lời cho các câu hỏi mà dân gian đã
từng tự đặt ra trong tiềm thức của
họ.
Mà ứng khẩu hay ứng tác thì thường phải có
"hứng". Từ xưa đến nay, từ đông
sang tây, các nhà thơ đều cho rằng "hứng"
là điều kiện cần thiết để sáng tác thơ
văn. "Hứng" thường
có ba lối: Một là
"thiên hứng", là đặc ân của trời phú cho
một số ít người, bỗng nhiên thốt ra được
những câu thơ rất hay mà chính tác giả cũng không
ngờ được. Hai là hứng theo "thói quen",
vì thói quen lâu ngày đã trở thành một "bản sinh
thứ hai" của những người thuộc được
nhiều câu ca dao, dân ca, và thường đi hò hát lâu năm
ở nhiều nơi. Nhờ thuộc được
nhiều câu ca dao, (một kho tàng thi liệu trong ký ức)
nên khi ứng khẩu, có thể đem ra "lặp
lại", ghép lại với nhau, sửa đổi ít nhiều,
thế nào cho câu dưới vần được với
câu trên, tạo thành một bài ca dao
ngắn, vần nhịp chỉnh đốn, thích nghi
với hoàn cảnh lúc đó. Ngày xưa, một trong
những điều kiện để được
nhận vào các nhóm "hát quan họ" hay các nhóm "hát phường
vải" chẳng hạn, là phải "thuộc được
nhiều câu ca dao hay dân ca" (5).
Ba là lối "gợi hứng tại chỗ", như
tự mình lắc lư đầu, gật gù, gõ nhịp...
lẩm bẩm trong miệng, đi qua đi lại, vung tay
vung chân... (chưa kể hút thuốc, ăn trầu,
uống rượu...) để tự kích thích thần
kinh, tưởng tượng, cảm xúc, khơi mở kho
tàng thi liệu trong ký ức, khiến cho từng loạt
câu thơ có thể xuất hiện tuông ra dễ dàng. (6)
Trong các
cuộc hát hò ở thôn quê, thỉnh thoảng cũng có được
một vài nhà thơ dân gian có "thiên hứng", còn đa
số ứng tác bằng "thói quen", dùng trí nhớ
lặp lại những câu đã thuộc để ghép
thành bài. Hoặc dùng một kỹ thuật "gợi
hứng tại chỗ" mệnh danh là "thể
hứng". Đó là lối dùng những câu mào đầu
gọi là "câu hứng", đưa ra một vài hình
ảnh hay sự việc gì đó, để gây không khí hào
hứng làm cho ta cảm thấy thích thú, rạo rực
muốn ca hát lên, muốn buông ra những câu thơ, bài hát,
tiếng hò... Và nhất là cũng để cho nhà thơ dân
gian có thì giờ suy nghĩ, tìm tiếng bắt vần xuống các câu sau,
mà diễn tả tình ý của mình. Đặc điểm của
thể hứng là nội dung những "câu hứng"
mào đầu ấy không liên hệ gì với nội dung
của bài ca dao hay dân ca.
Tỉ dụ như ở các câu sau đây:
Chim xanh ăn trái ổi Tàu,
Những
hình ảnh, sự việc dẫn ra ở hai câu hứng,
mào đầu: "chim ăn ổi", "sông sâu sẵn
đò" không liên quan gì đến việc "xứng đôi
cha mẹ gả", "nhiều nhân ngãi mang oán thù".
Ngoài việc giúp cho các nhà thơ dân gian được kích
thích, được có thì giờ để tìm ý tìm lời,
thì các "câu hứng" mào đầu còn có mục đích
giúp cho họ lấy giọng, có được đà, mà
can đảm đi vào đề, bày tỏ những ý
nghĩ riêng tư của mình ra. Theo lối xử sự
giữa nam và nữ ngày xưa, nếu bắt đầu mà
"tỏ tình" ra một cách quá đường đột,
trắng trợn, thì có thể làm cho người nghe ngượng
ngập, thẹn thùng. Giả tỉ có trường hợp
một cô gái muốn nói với người yêu rằng:
"Thương anh đứt ruột mà giả đò làm
ngơ" chẳng hạn. Cô ta đã có sẵn trong đầu
"câu bát" (8 tiếng) ấy, bây giờ cần có
một "câu lục" (6 tiếng) để dùng làm
"câu hứng", mà tiếng chót có vần "ò" (để
vần với tiếng "đò" ở câu bát), ghép với nhau cho
thành một câu ca dao lục bát. Cô gái ấy có thể:
(a) Hoặc tự mình đặt ra một
câu 6 chữ nào đó, chỉ cần tiếng chót có vần
"ò" để ghép với "câu bát" ấy mà
thôi, như:
Đêm khuya lặn
lội thân cò,
Ý trong câu hứng
của cô gái đặt ra: "đêm khuya lặn lội
thân cò " không liên hệ gì với ý chính trong câu bát "thương
đứt ruột mà giả đò làm ngơ".
(b)
Hoặc cô gái lấy lại nguyên một vài câu ca dao đã
có sẵn, mà tiếng chót có vần "ò", như:
"Chim chuyền bụi ớt líu lo", "Đường
đi cách núi trở đò", "Đêm khuya gà gáy ó
o"... Đem lắp mỗi câu ấy vào với "câu
bát" thì sẽ thành nhiều câu ca dao giúp cho cô gái bày
tỏ được tình ý của mình:
Chim chuyền bụi ớt líu lo,
Có những câu ca dao được dân gian đem ra dùng đi
dùng lại, để làm "câu hứng" mào đầu,
như:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã
thấm,
(c) Hoặc cũng lấy một câu
lục đã có sẵn, đem sửa vài tiếng chót cho có
vần "ò", rồi ghép với "câu bát" ý chính
của mình. Như lấy câu lục ở một bài đã
có sẵn sau đây:
Thò tay ngắt ngọn rau ngâu,
Đổi "ngọn rau ngâu" thành
"một ngọn ngò", cho có vần "ò":
Thò tay ngắt một ngọn ngò,
(d) Lắm khi thể hứng gồm có
nhiều câu (chớ không phải chỉ một câu lục
mà thôi), như:
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Thỉnh thoảng, cũng có những câu
hứng mà vừa là câu phú (tả rõ), hay vừa là câu tỉ
(so sánh), hay vừa là câu ẩn dụ (so sánh thật kín đáo),
như:
Vừa hứng vừa phú :
Rủ nhau xuống bể mò cua,
Hai câu đầu thể hứng, lại
vừa tả rõ việc mò cua, hái mơ để nấu
canh "mơ chua", rồi từ chữ "mơ
chua" bắt quàng liên hệ xuống ý "chua
ngọt" của cuộc tình giữa đôi lứa,
ở hai câu sau.
Vừa hứng vừa tỉ :
Sông kia có lạ chi cầu,
Câu hứng đưa ra hình ảnh
"sông không lạ chi cầu" để liên hệ
với ý ở câu dưới: cũng như " đây và đó
có lạ chi nhau".
Vừa hứng vừa ẩn dụ :
Đất
Quảng Nam chưa mưa đã thấm,
Giữa ý của hai câu hứng và ý ở
hai câu tiếp theo, có một liên hệ giây chuyền: liên hệ giữa hình
tượng
"rượu hồng đào" với "chén rượu
đầy", "lời thề nhớ chén rượu
nầy". Dư âm của ý "rượu chưa
nhấm đã say" bàng bạc suốt bài, dẫn
khởi đến "cuộc tình duyên mới gặp mà đã
say mê", mà đã buông "lời thề chung thủy ngay
tại đêm nay". Một ẩn dụ cấu trúc
nhẹ nhàng mà tha thiết.
Đặc tính của những "câu
hứng" là ý bâng quơ, rời rạc, không ăn
nhập gì với nội dung bài dân ca hay bài ca dao. Đó là
những "câu thơ vô nghĩa" so với toàn
bài. Trong "đồng ca" (bài hát trẻ em) cũng
có những "câu thơ vô
nghĩa", đó là những đoạn câu có vần, có
nhịp điệu cho dễ nhớ, với mục đích
vừa dạy từ ngữ vừa mua vui cho trẻ em. Như:
Trời mưa lâm dâm,
Thi ca nước Pháp, vào các thế kỷ XII, XIII, cũng có
một loại thơ gọi là "fatrasie" trong mỗi
bài thơ, trừ câu đầu và câu chót, tất cả những
câu khác đều bâng quơ, vô nghĩa. Vào cuối thế
kỷ XIX, Paul Verlaine chủ trương "thơ trước
hết là nhạc", câu thơ chỉ cần giàu âm hưởng,
nhạc điệu, có khi bất chấp ý nghĩa,
chẳng hạn như ở bài Pantoum négligé, 16 câu toàn
là "vô nghĩa" (hay có một ý nghĩa mà không ai
thấy được), xin trích 4 câu đầu, dịch ra
tiếng Việt như sau:
Ba cái bánh pa-tê nhỏ, chiếc áo sơ-mi của tôi cháy.
Gần đây, ở nước Anh cũng có phong trào thơ
"nonsense" (vô nghĩa), với những câu nội dung
chẳng ăn nhập vào đâu cả. Thi ca Pháp, cũng đã
phát sinh khuynh hướng chủ trương thơ chỉ
cốt ở ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý
nghĩa, lời thơ có nghĩa hay vô nghĩa cũng không
quan trọng gì. Đến mức Paul Valéry phải nhắc
đi nhắc lại rằng: "Một thi nhân không có
trách vụ cảm thấy trạng thái nên thơ: điều
đó là một việc riêng tư của anh. Mà trách vụ
của thi nhân là tạo ra cái trạng thái nên thơ ấy nơi
những người khác. (8)
Nhưng bản thể các "câu hứng vô nghĩa" trong
ca dao ta có phần khác hơn. Trước khi vào đề,
dân gian ta dùng những "câu hứng" gợi lên
những hình tượng, sự việc, tình ý rút ra từ
thiên nhiên xung quanh họ, từ cuộc sống hằng ngày
của chính họ, từ ký ức chung của dân tộc
Việt Nam, nên đã gây được những tiếng
vang dội sâu rộng trong tiềm thức của người
nghe, gây được trong tâm tư người nghe
một cảm giác thích thú, một sự biểu đồng
tình tha thiết để sẵn sàng tiếp nhận
sự truyền đạt một cách dễ dàng. Các
"câu hứng" là những tiếng nhạc dạo trước
khi đàn, là bài hát rao tuồng để mở màn trong
một tuồng hát bộ ngày xưa, là một tập quán
trong việc ứng xử "lịch sự" lâu đời
của xã hội Việt Nam. Khác hẳn với các câu
"thơ vô nghĩa" Tây phương ; các "câu
hứng" của dân ta dù có giá trị nghệ thuật,
tâm lý, xã hội thế nào, cũng vẫn không tách ra
khỏi cái nhu cầu đóng góp, chuẩn bị cho trách
vụ chính yếu của nhà thơ là truyền đạt
tình ý cho những người đang nghe.
Phương
thức truyền đạt tình ý của "thơ
viết" và của "thơ truyền khẩu" có
phần khác nhau. Các thi nhân "thơ viết" phải
theo phương thức ngữ pháp hóa ngôn từ, còn các nhà
"thơ truyền khẩu" lại theo phương
thức kịch trường hóa ngôn từ. Nhà thơ
"chữ viết" có thì giờ nhiều, nên thường
cặm cụi gò dũa câu văn theo ngữ pháp bác học
qui tắc chật hẹp, khó khăn, còn nhà thơ
"truyền khẩu" phải ứng tác tức
khắc và ngay tại chỗ, trước quần chúng:
họ vừa là tác giả, vừa là người diễn xướng,
vừa là kịch nhân, trọn quyền linh động
tận dụng mọi nghệ thuật ngôn từ của
môn kịch. Mà kịch trường ở đây chính là sân khấu
đại qui
mô của cuộc sống xã hội hiện hữu hằng
ngày của dân gian ta. Do đó, nghệ thuật thi ca
truyền khẩu rất phong phú, linh động, luôn luôn
buông túng theo các biến chuyển của xã hội, mà đổi
mới không ngừng. Giáo sư Paul Zumthor đã kết
luận: "Chính vì các lẽ ấy, nên thi ca truyền
khẩu thường bao gồm nhiều qui tắc và
phức tạp hơn thi ca sáng tác bằng chữ viết:
ở những xã hội mà tập tục truyền khẩu
chiếm ưu thế, thì thi ca truyền khẩu có một
nghệ thuật điêu luyện hơn phần đông các tác phẩm
sáng tác bằng văn tự." (9)
Nhưng đừng quên rằng nghệ thuật thi ca truyền
khẩu vốn là nghệ thuật của "ngôn
ngữ-ký ức". Và muốn cho người nghe ghi
nhớ dễ dàng và bền lâu vào ký ức, thì các câu thơ
truyền khẩu phải phù hợp với: nhịp vận động
của thân hình con người, phải vang lên những âm hưởng
của tiếng nói con người, phải dùng tưởng tuợng
con người
mà nhìn hình tượng, dùng lý trí con người mà thấy được
sự chuyển ý của văn ảnh cô đọng,
dẫn khởi. Như vậy, "ngôn ngữ-ký ức"
đòi hỏi trong các bài ca dao, dân ca một cấu trúc xây
dựng trên ba yếu tố: nhịp điệu, âm
hưởng và hình tượng văn ảnh.
Vấn đề được đặt ra ở đây
là ngôn ngữ Việt Nam chúng ta có cung cấp cho thi ca
truyền khẩu (ca dao, dân ca) đầy đủ các
yếu tố đặc thù ấy không? Nếu có thì đến
mức độ nào?
A. Nhịp điệu
Jean-Louis Joubert, giáo sư đại học Sorbonne tại Paris, trong
tác phẩm La Poésie, có giảng rõ: "Cấu trúc thi ca
truyền khẩu đã bắt chước theo các điệu
bộ nhịp nhàng của thân hình, lối ngâm dằn
từng tiếng thích hợp với sự hô hấp.
Những phương thức đơn giản, trong đó
điệu bộ và ngôn ngữ chồng chất lên nhau
(từng loạt các câu cân bằng và mất cân bằng, điệp
ngữ và đối ngẩu, đối xứng và xen
kẽ, song song và bắt vần, v.v...) tạo điều
kiện dễ dàng cho sự ghi nhớ và bảo đảm
sự biểu đồng tình của cử tọa, đồng
thời cho phép sáng tạo, bằng
ngữ thuật, những tạp diễn vô hạn định.
Sự hội nhập điệu bộ và thân hình vào thi ca
vẫn tiếp diễn dù là khi người ta rời xa
lối truyền khẩu. Chính sự hội nhập
nầy đã cấu tạo nên nhịp điệu, nhờ
đó thơ được nổi bật hơn các công
trình tạo tác khác bằng chữ viết (10).
Sự hội nhập ngôn ngữ thi ca truyền khẩu
với điệu bộ của thân hình con người, được
thể hiện trong ngôn ngữ Việt qua sự vận
dụng những tiếng kép đôi và lối xen kẻ
nhiều tiếng kép đôi với nhau. Ngôn ngữ Việt
vốn có rất nhiều tiếng kép đôi, là những
tiếng gồm có hai tiếng ghép lại: hoặc 2 tiếng đều có
nghĩa, như: rụng rời, nóng nực, ngày tháng,
mờ mờ, nhẹ nhẹ..., hoặc 1 tiếng có
nghĩa với 1 tiếng vô nghĩa, như: lạnh
lẽo, buồn bã, ngại ngùng (lẽo, bã, ngùng: là
những tiếng vô nghĩa), hoặc 2 tiếng đều
vô nghĩa, như: thong dong, khắc khoải, tồng
ngồng, lôi thôi, v.v... Dân ta có khuynh hướng dùng
những rất nhiều tiếng kép đôi thay cho những
tiếng đơn đồng nghĩa, để cho câu nói
được nhịp nhàng, cân đối. Thay vì nói "ao
thu lạnh" chẳng hạn, thì người ta lại
thích nói "ao thu lạnh lẽo"; đáng lẽ chỉ
nói "gặp nhau vui lắm " thì lại thích nói
"gặp nhau vui vẻ lắm". Thay vì nói "đi
chậm" thì lại thích nói "đi chậm
chạp". Các tiếng "lạnh, vui, chậm" có
nghĩa, các tiếng "lẽo, vẻ, chạp" là
những tiếng vô nghĩa, chỉ thêm vào nghe cho nhịp
nhàng, êm tai, hay cho ý nghĩa được tinh tế hơn.
Các câu thơ Việt được nhịp nhàng cân đối
là do dân gian đem những tiếng kép đôi xen kẽ
lại với nhau, để tạo thành hai vế đối
xứng nhau, như:
Nhân duyên tháng đợi năm chờ,
Hai tiếng kép đôi
"năm tháng" và "đợi chờ" xen kẽ
nhau thành: "tháng đợi / năm chờ".
Hơn nhau tấm áo, manh quần,
Hai tiếng kép đôi
"tấm manh", "aó quần" xen kẽ nhau thành:
"tấm áo / manh quần".
Gẫm xem thế sự thăng trầm,
Ba tiếng kép đôi
"xưa nay", "ông thằng" và "trắng trơn"
xen kẽ nhau thành: " Xưa ông mặt trắng / nay
thằng mặt trơn" .
Sông Ngân hà dễ bắt cầu,
Bốn tiếng kép đôi
"trai gái", "thương sầu", "vợ
chồng" và "cũ xưa" xen kẽ thành hai
vế đối xứng: "Trai thương vợ
cũ / gái sầu chồng xưa"...
Như
thế, dùng tiếng kép đôi, và xen kẽ các tiếng kép đôi
là hai phương thức căn bản để xây
dựng nhịp điệu trong thơ truyền khẩu
Việt Nam. Các nhà thơ "chữ viết" nổi
tiếng nước ta, trước đây, cũng thường
vận dụng các tiếng kép đôi nầy. Chẳng hạn như
trong Đoạn
Trường Tân Thanh, đoạn "Kiều đi Thanh Minh"
(câu 43 đến câu 142), Nguyễn Du đã dùng trên 30
tiếng kép đôi (nô nức, dập dìu, ngổn ngang, tà tà,
thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, sè sè, dầu
dầu, xôn xao, mong manh, dầm dầm, đau đớn,
mòn mỏi, phôi pha, gặp gỡ, lầm rầm, nhỏ to,
mê mẩn, tần ngần, ủ dột, vắn dài,
nặng nề, ào ào, rành rành, hiển hiện, lai láng,
bồi hồi, dùng dằng, gần gần, con con,... ) và mười
mấy lối xen kẽ các tiếng kép đôi thành những
tiếng kép bốn, phân ra làm hai vế đối xứng
nhau:
"Trâm bình", "gảy rơi" > Thì đà trâm
gảy, bình rơi bao giờ.
Văn
chương Đông phương chúng ta thiên nhiều về
sự đối xứng, nhưng trong thi văn Pháp,
"sự đối xứng hay đối ngẫu... là
một khái niệm mới xuất hiện gần đây,
mà tu-từ học cổ-điển không hề lưu tâm đến.
Khi Malherbe dịch các bài thơ Thi Thiên trong Thánh Kinh
(Psaumes), hình như ông không nhận thấy rằng căn
bản thi ca Thánh Kinh đã xây dựng trên những đối
ngẫu, và trong bản dịch sang Pháp văn, ông không
hề tìm cách phục nguyên lại các lối đối
ngẫu ấy." (11)
Các văn
thi sĩ Pháp cũng không hay dùng đến lối đối
ngẫu trong các tác phẩm, và trong lý luận văn học
của họ cũng không bàn cập đến vấn đề
ấy. Tuy vậy, dân gian Pháp vẫn theo lối đối
ngẫu mà sáng tạo ra nhiều câu ca dao, tục
ngữ cân đối, như:
"Loin des yeux, loin du coeur" (xa mặt, cách lòng), "Après
la pluie, le beau temps" (hết mưa, lại nắng),
"Tel père, tel fils" (cha nào, con nấy), "Oeil pour oeil,
dent pour dent" (ăn miếng, trả miếng), "La
parole est d'argent, le silence d'or" (lời nói là bạc, im
lặng là vàng)... Như thế, là vì dân gian Pháp (cũng như
dân gian Việt hay bất cứ sắc dân nào khác trên
thế giới) bao giờ cũng theo qui luật tự
nhiên chung của con người về nhịp thở và
về nhịp cử động thân hình, mà cấu tạo
ra những câu nhịp nhàng, đối xứng, để
cho dễ nói, dễ thuộc, dễ nhớ.
B. Âm hưởng
Âm hưởng
ở thi ca truyền khẩu Việt Nam luôn luôn được
gắn liền với nhịp điệu. Âm hưởng
ở đây chỉ chung tiếng nói, lời nói của con
người Việt Nam, một tiếng nói có âm vận và
âm thanh thật phong phú. Âm vận chỉ những tiếng
có vần với nhau. Hai tiếng vần với nhau trước
hết phải có một âm căn bản như nhau (âm căn
bản là những âm chưa có dấu giọng), rồi
nếu thêm các dấu giọng thì ta sẽ có:
Vần
bằng là những tiếng có dấu huyền
và tiếng không dấu vần với nhau, tỉ dụ như
"mơ" vần với "mờ",
với "cờ", với "tơ"
(cùng một âm căn bản "ơ"); "tài"
vần với "mai", với "đài"
(cùng một âm căn bản "ai"); "thương"
vần với "lường", với "chương"
(cùng một âm căn bản "ương")...
Vần
trắc là những tiếng có dấu sắc,
dấu ngã, dấu hỏi, dấu nặng vần với
nhau, tỉ dụ như "có" vần với
"thỏ", với "mõ", với
"họ" (cùng một âm căn bản "o");
"cáng" vần với "hảng",
với "lãng", với "trạng"
(cùng một âm căn bản "ang"), v.v...
Về
vị trí của vần trong câu, ta có hai loại: Cước
vận (cước = chân), là những vần gieo vào các
tiếng ở cuối câu, và yêu vận (yêu = lưng),
là những vần gieo vào tiếng ở lưng chừng
câu. Âm vận cũng là một loại điệp ngữ (điệp
âm) lặp lại nhiều lần các âm căn bản cùng
một thanh.
Đặc điểm của ca dao Việt là vừa có cước
vận vừa có yêu vận.
Ca dao Tàu chỉ có cước vận, không có yêu vận, như
ở bài ca dao Tịnh Nữ trong Quốc phong, (Kinh
Thi) dưới đây:
Tịnh nữ kỳ thù,
(Dịch: Cô gái
dịu dàng xinh đẹp, đợi ta ở góc thành. Yêu mà
không được gặp, Ta xoa đầu băn khoăn).
So với bài ca dao Việt sau đây:
Chồng gì anh, vợ gì tôi ?
Ta thấy bài ca dao Tàu 4 câu chỉ có 3 tiếng cước
vận mà thôi: "thù", "ngu" và "trù" ở
cuối các câu 1, 2 và 4. Còn bài ca dao Việt cũng 4 câu mà có đến
5 tiếng bắt vần: Cước vận: "đây"
vần với "tay". Yêu vận: "tôi" vần
với "đời", "tay" vần với
"nay".
Chúng tôi
nhận thấy có nhiều yêu vận trong "thơ truyền
khẩu" của dân Mạ (Thượng Việt ở
Cao nguyên Trung phần) và dân Lào, [mà theo Bình Nguyên Lộc, tác
giả Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Nam, đó
là những sắc dân vốn cùng một tông Malai (Malaya)
với chúng ta. (12)] thơ bình dân Lào sau đây:
Xa thú, xa gio, mư xay kậu,
(Dịch: Chắp tay lên trán kính cẩn thưa: Kẻ tôi tớ nầy xin
kể lại sau đây, theo cổ tích từ đời xưa
truyền lại về đoạn vua Khun Bu Rôm).
Bốn câu mà có đến 6
tiếng yêu vận: "kậu" vần với
"chậu"; "nan" vần với "than";
"koòn" vần với "boòn".
Và ở bài ca dao Mạ:
Oi puu' taany mang,
(Dịch thoát: Chăn "puu' " dệt ban tối, chăn "pang"
dệt ban ngày, chăn "đờ-rai" dệt ngày lẫn đêm).
Bốn câu có đến 6
tiếng yêu vận: "mang" vần với
"pang"; "ngai" vần với "đờ-rai",
và "ngai".
Có người
cho rằng âm vận hiện nay trong thi ca truyền khẩu
Việt Nam là kết quả của sự hòa nhập
giữa cước vận Tàu với yêu vận Lào,
Mạ... Nói một cách chính xác hơn nữa, (vẫn theo
Bình Nguyên Lộc) Việt Nam vốn cùng chung một tông Malai
(Malaya) với Lào, Mạ, nên tất nhiên đã có sẵn yêu
vận, về sau chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu,
nên chúng ta thu nhận thêm cước vận (tỷ
lệ : 1 cước vận / 2 hoặc 3 yêu vận) để
tạo ra các thể lục bát, song thất lục bát ngày
nay. Nhìn chung, "điệp ngữ" (điệp âm)
của âm vận đã hòa nhập với "đối
xứng" của nhịp điệu, khiến cho ngôn
ngữ Việt Nam trong thi ca truyền khẩu nghe du dương,
êm tai, giàu nhạc tính. Mà nhạc tính, theo định
nghĩa nguyên thủy trong văn học Tây phương là
bản thể của thi ca: "Thơ là nhạc của
tâm hồn" (Voltaire), "Thơ là tham vọng của
ngôn từ muốn chứa đựng cho được
nhiều ý hơn, pha trộn với nhiều nhạc hơn,
mà ngôn ngữ thông thường không chứa đựng và
không thể chứa đựng được" (Valéry) (13).
Âm thanh
trong ngôn ngữ Việt chỉ chung các giọng dài,
giọng ngắn của tiếng Việt. Tiếng Việt
có nhiều dấu, phân thành hai loại. Tiếng bằng,
giọng êm dịu, có thể kéo dài ra được, như
những tiếng không có dấu và những tiếng có
dấu huyền. Tiếng trắc, giọng ngắn
ngủn, không đọc dài ra được, như
những tiếng có chữ c, ch, p, t đứng ở
cuối tiếng và những tiếng có dấu sắc,
nặng, hỏi, ngã. Trong những tiếng bằng và
tiếng trắc, tiếng nào cũng có thứ tiếng
bổng và tiếng chìm. Tiếng bổng trong tiếng
bằng là những tiếng thượng bình thanh,
không có dấu; tiếng chìm trong tiếng bằng là
tiếng hạ bình thanh, có dấu huyền. Tiếng
bổng trong tiếng trắc là những tiếng có dấu
sắc và dấu ngã, tiếng chìm là những tiếng có
dấu hỏi và dấu nặng. Những tiếng
bằng, trắc ở ca dao thường dùng để
ngắt đoạn trong câu, nhấn mạnh vào các nhịp điệu.
Thể
thơ là hậu quả của sự hòa nhập giữa
nhịp điệu, âm thanh và âm vận. Chính cách ngắt
câu, ngắt đoạn (nhịp điệu), cách đặt
và đổi chỗ các tiếng trắc, tiếng bằng
vào tiếng chót của mỗi đoạn câu (âm thanh) và
cách gieo yêu vận hay cước
vận vào những vị trí nào trong toàn bài (âm vận), đã
quyết định cấu trúc của các "thể thơ"
trong thi ca truyền khẩu dân ta. Các nhà văn học thường
phân thi ca truyền khẩu ra thành ba thể: thể nói
lối (những câu từ 2 đến 5, 6 tiếng),
thể lục bát chính thức (cứ 1 câu lục 6
tiếng và một câu bát 8 tiếng đi cặp với
nhau) và thể song thất lục bát chính thức (gồm có
hai câu thất, mỗi câu 7 tiếng và hai câu lục bát).
Luật thơ do các nhà Nho ngày xưa đã căn cứ vào
những câu thơ lục bát hay song thất lục bát đã
thành hình mà đặt ra luật thơ với
nhiều qui lệ, song chính yếu ta nhận thấy có:
1. Tiết tấu (cách ngắt đoạn trong câu): mỗi câu có ba hay 4 đoạn,
mỗi đoạn có 2 hay 3 tiếng, qui định như
sau: câu thất 3/2/2, (khác với các câu thất trong thơ
Tàu 2/2/3); câu lục 2/2/2, câu bát 2/2/2/2. Trong mỗi câu,
những tiếng chót các đoạn phải lần lượt
trắc rồi bằng, hay bằng rồi trắc, một
qui luật mà Hoài Thanh gọi là "luật đổi
thanh" (Thi nhân Việt Nam, 1942) theo biểu đồ
sau đây:
Thể lục bát
Câu lục 0 B / 0 T / 0 B
Thể song thất lục bát
Câu thất 1 0 0 T / 0 B / 0 T
Chú thích: 0 = tiếng không
buộc trắc hay bằng; 0 B1 / 0 B2 = hễ B1 thanh bằng bổng, không có
dấu, thì B2 thanh bằng chìm, có dấu huyền, và ngược
lại.
Xin lưu ý : "Luật đổi
thanh" ấy cũng không khỏi có một vài biến
dạng, ngoại lệ:
a. Biến dạng: đoạn
cuối các câu bát, theo đúng "luật đổi
thanh" phải là 0 B,
nhưng lại là 0 B1 / 0 B2. Vì sao? Theo thiển ý chúng tôi, thì
hai đoạn 0 B1 / 0 B2
nầy có thể coi như là một đoạn
có tiếng chót thanh bằng 0 B, nhưng tiếng chót
thanh bằng B ấy được kéo dài ra để
chấm dứt câu và chấm dứt theo hai ‘thuật
kết câu’ như sau:
Hoặc ngân
kết, kéo dài thanh bằng ra qua một (vài) tiếng
thanh bằng khác, để kết câu theo công thức (B b
B), ví dụ:
Người khôn, ai chẳng nâng niu
Hoặc láy kết, đưa giọng lên cao láy qua
một tiếng trắc, rồi trở lại thanh bằng để
kết câu theo công thức (B t B):
Con cò trắng toát như bông
Ngân kết theo công thức (B b B): "chiu trên cành",
"chồng cò ơi"; láy kết theo công thức (B t B):
"không chịu vào", "đùm lấy nhau", là
những ‘thuật kết câu’, ‘kết bài’ thường dùng
trong cổ nhạc, trong dân ca chúng ta. Như thế, các
tiếng chót ở hai đoạn cuối các câu bát, nếu
tiếng trước thanh bằng (B1) không dấu (bằng
bổng), thì bắt buộc tiếng sau (B2) phải thanh
bằng có dấu huyền (bằng chìm), và ngược
lại. Đó cũng là một hình thức "đổi
thanh", song mức độ nhẹ hơn: vẫn ở
trong thanh bằng, mà kéo dài từ thanh bằng bổng
xuống thanh bằng chìm, hay ngược lại từ
thanh bằng chìm lên thanh bằng bổng.
b. Ngoại lệ: Tiếng chót của đoạn
đầu câu thất (trong song thất lục bát), theo "luật
đổi thanh" phải là tiếng trắc, nhưng
nếu hai câu bảy đặt
thành 2 câu sóng nhau, (hoặc đối, hoặc không đối),
thì có thể là một tiếng thanh bằng, như ở
các bài dưới đây:
Của của trời (B) ai chăm
(B) thì được (T)
2. Cách gieo vần trong thi ca truyền khẩu ta theo như
trong các biểu đồ dưới đây:
Thể lục bát
Câu lục 0 B 0 T 0 B (cvb)
Thể song thất lục bát
Câu thất 1 0 0 T 0 B 0 T (cvt)
Chú thích: (cvb) = cước vận bằng; (cvt) = cước
vận trắc; (yvb) = yêu vận bằng; (yvt) = yêu vận trắc.
Bài ca
dao hay dân ca nào cấu trúc đúng y như trên thì gọi là "lục
bát chính thức" hay "song thất lục bát chính
thức". Còn bài nào tuy cách ngắt đoạn trong câu và
cách gieo vần đúng luật, nhưng số tiếng
trong mỗi đoạn không đúng với số
tiếng luật thơ qui định, thì gọi là "lục
bát biến thức", như:
Nói lời / anh chẳng / giữ lấy lời
(Câu lục đáng lẽ 6 tiếng thì lại 7 tiếng, câu bát đáng lẽ
8 tiếng thì lại 11 tiếng)
Hay gọi là "song thất lục bát biến thức",
như:
Ới anh ơi / có xa / thì xa cho mất
(Đáng lẽ 7 tiếng, mà câu thất một lại 9 tiếng, câu
thất hai lại 8 tiếng, câu lục đáng lẽ 6
tiếng thì lại 8 tiếng, câu bát đáng lẽ 8
tiếng thì lại 10 tiếng).
Bùi Kỷ, trong Quốc Văn Cụ Thể, có nhận
xét rằng: "Lục bát là lối văn riêng của ta mà
Tàu không có. Phát nguyên bởi những câu ca dao, phương
ngôn, ngạn ngữ đời cổ, kỳ thủy
mỗi câu hoặc 4 chữ, hoặc 5, hoặc 6...chữ,
không nhất định, dần dần dựa vào êm tai, đọc
ra thuận miệng, thành ra một thứ âm điệu...
cứ câu 6 tiếng tiếp theo luôn câu 8 tiếng, cho nên
gọi là lục bát". (14)
Theo chủ trương nầy (các câu thể "nói
lối" nguyên thủy đã theo thời gian chuyển hóa
dần dần thành ra các thể "lục bát" và
thể "song thất lục bát"), chúng tôi xin đưa
ra một giả thiết về lai lịch của ca dao,
theo một quá trình chuyển hóa tưởng tượng, như
sau:
a. Chuyển
hóa từ "nói lối" thành ra "lục bát" :
Lấy một bài ca dao thể "nói lối" 4 câu dưới
đây:
1. Bâng khuâng, bát ngát,
Nếu ghép câu 1 với câu 2
lại với nhau và bỏ hai tiếng "bát ngát", ta
có một "câu lục", ghép câu 3 và câu 4 lại, ta có
một "câu bát", cả hai câu lục và bát hợp
lại thành một cặp "lục bát biến
thức":
Bâng khuâng em hát hữu tình,
b. Chuyển
hóa từ "nói lối" thành ra "song thất lục
bát" : Lấy một bài ca dao gồm có
sáu câu (4 câu nói lối và 2 câu lục bát) sau đây:
1. Gió hiu hiu,
Nếu ghép câu 1 và câu 2 với nhau, ta có
câu thất thứ nhất, ghép câu 3 và câu 4 với nhau, ta có
câu thất thứ nhì. Hợp lại với câu 5 và câu 6 là
hai câu "lục bát", ta sẽ có bài "song thất
lục bát biến thức":
Gió hiu hiu, chín chiều ruột thắt,
Hoặc từ bài ca dao 6 câu sau đây:
1. Dãy dọc tòa ngang,
Nếu ghép câu 1 với câu 2 thành câu
thất thứ nhất, ghép câu 3 với câu 4 thành câu
thất thứ nhì, hợp lại với câu 5 và câu 6, ta có
bài thể "song thất lục bát biến thức":
Dãy dọc tòa ngang, giàu sang có số.
c. Chuyển hóa từ
"nói lối" thành ra thể "thất thất bát".
Trong khi tham khảo một số sách sưu
tập về ca dao như Văn nghệ dân gian
Quảng Nam Đà Nẳng của Nguyễn Văn Bốn,
Tục ngữ Ca dao của Lê Gia, Dân ca Kiên Giang
của Lưu Nhất Vũ, Nguyễn Văn Hoa, Lê Giang, Việt
Nam văn học bình dân của Nguyễn Trúc Phượng...
chúng tôi thấy có trên 100 bài ca
dao, mỗi bài gồm có hai câu thất (7 tiếng) và một
câu bát (8 tiếng) mà chúng tôi gọi là "thất thất
bát", theo cấu trúc bài sau đây:
Thiếp xa chàng, hái dâu quên giỏ, (7 tiếng)
Cũng theo giả
thiết trên, lấy bài thể "nói lối" 6 câu sau đây:
1. Canh hãy còn khuya,
Nếu ghép câu 1 và 2, thành câu thất thứ nhất, ghép hai câu 3 và
4, thành câu thất thứ nhì, rồi ghép hai câu 5 và 6 thành câu
bát, ta sẽ có một bài thể "thất thất
bát" biến thức như sau:
Canh hãy còn khuya, đường về thăm
thẳm,
Và dưới đây, chúng tôi xin trích một số câu ca dao thể
"thất thất bát" biến thức trích từ các
sách sưu tập về ca dao kể trên, để quí
vị độc giả rộng đường nhận xét:
1. Tôi đi ngang nhà má,
1. Thương chi mà bạn thương vô
cớ,
1. Kết phứt đi, đây duyên, đó nợ,
1. Xa làm chi mà xa quanh, xa quất,
1. Khổ chi p hận em,
cha chả là cam phận khổ,
Trưóc đây, trong khi sưu tầm,
cũng có lần gặp một vài bài ca dao gồm có 3 câu như
thế, chúng tôi cứ tưởng là người biên
soạn chép sai, hay nhà in sắp chữ xuống hàng không đúng.
Về sau vì nhận thấy số ca dao "thất
thất bát" gặp được cũng khá nhiều,
và do những nhà văn học biên soạn khác nhau, nên chúng
tôi đặt thành vấn đề, mà sưu tầm sâu
rộng hơn, và tự hỏi có phải đây là một
thể trung gian giữa thể "lục bát" và
thể "song thất lục bát" chăng? Và vì sao
những sách sưu tầm cũ hơn, như Tục
ngữ - Phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, Thanh
Hóa quan phong của Vương
Duy Trinh chẳng hạn, hay ở một số sách tham
khảo về thi ca bình dân gần đây, không thấy ghi
các câu ca dao thể "thất thất bát" nầy?
Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ vì ngày trước,
ca dao miền Bắc đã tiến đến mức độ
cao hơn miền Nam rất nhiều, truyện Kiều được
phổ biến sâu rộng trong đám bình dân, phong trào dân ca
trong các hội hè được thịnh hành đã lâu, nên
những câu ca dao "thất thất bát" đã phải
nhường chỗ cho những câu ca dao thể
"lục bát" và "song thất lục bát" bác
học hoá, là các thể được coi như mẫu
mực phải theo. Còn các nhà biên soạn gần đây, có
lẽ cho những câu thể "thất thất bát"
nầy không đúng mẫu mực, không vào luật thơ
nào cả, nên không tuyển trích lại chăng?
Cũng xin lưu ý rằng những câu ca
dao "thất thất bát" mà chúng tôi đã sưu
tầm được cho đến nay, hầu hết đều
xuất xứ ở miền Trung và miền Nam, cho nên khi
bỏ vần, các nhà thơ dân gian không chú trọng đến
phụ âm cuối tiếng, như "vàng" vần
với tiếng "than", hay lẫn lộn các âm căn
bản cuối tiếng, như "liềm" vần với
"chìm", v. v... Các nhà Nho đã căn cứ vào các bài
"lục bát" và "song thất lục bát" đã
có giá trị nghệ thuật mức độ cao, để
làm ra các "luật thơ" như vừa thấy trên đây,
mà hiện nay đang còn được giảng dạy
ở các lớp văn khoa. Nhưng khi nhìn lại một
cách bao quát các thể thơ truyền khẩu, từ
thể gọi là biến thức đến thể gọi
là chính thức, chúng tôi tự hỏi có thể có được
một "luật thơ" nào khác đơn giản hơn
các luật thơ do các nhà Nho làm ra, để chi phối
chung tất cả các bài thi ca truyền khẩu của ta
không?
Năm 1942, trong Thi nhân Việt Nam,
Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận thấy có một luật
thơ mà các tác giả gọi là "luật đổi
thanh": "Luật đổi thanh rất tự nhiên trong thơ
Việt vẫn chi phối hết thảy các thể thơ".
Với lời ký chú thêm: "Hễ câu thơ chia làm hai, ba
hay bốn đoạn, những chữ cuối các đoạn
phải lần lượt bằng rồi trắc, hay
trắc rồi bằng".
(15)
Từ đó, chúng tôi để tâm kiểm chứng thì
thấy phần lớn các bài "thơ mới" (mà
chúng tôi đã có dịp đọc qua) đã cấu trúc đúng
theo luật ấy. Chẳng hạn như mấy câu ở
bài Lời Kỹ nữ của Xuân Diệu:
Khách ngồi lại (T) cùng em (B) trong chốc nữa
(T),
Cũng như mấy câu ở bài Nhớ
rừng của Thế Lữ:
Gặm một mối (T) căm hờn (B) trong
cũi sắt (T),
Mấy câu ở bài Tiếng thu
của Lưu Trọng Lư:
Em không nghe mùa thu
Chúng tôi
cũng có dịp kiểm chứng thêm các bài hát nói thời xưa,
như mấy câu của Nguyễn Công Trứ:
Vòng trời đất
(T) dọc ngang (B) ngang dọc (T)
Cũng như mấy câu của Cao Bá Quát:
Ba vạn (T) sáu nghìn ngày (B) là
mấy (T)
Nhất
là, chúng tôi cố ý tìm xem "luật đổi thanh"
nầy có chi phối thi ca truyền khẩu không? Từ
mấy câu thể "nói lối" của đồng dao:
Chập (T) chầm vông (B)
Đến mấy câu ca dao "lục bát biến thể":
Nhiều nơi
(B) phú quý (T) em cũng chẳng màng (B)
Mấy câu thể "song thất lục bát biến thể":
Trúc phải (T) xa mai (B) thì hoài trúc lứa (T)
Cho đến mấy câu thể "thất thất bát" :
Niên kỷ (T) cũng đồng (B) niên
kỷ (T)
Chúng tôi nhận thấy rằng trừ một vài ngoại lệ,
nhìn chung "luật đổi thanh" cũng chi phối
phần lớn các bài thơ truyền khẩu của dân ta.
Riêng về các thể gọi là "biến thức",
lối ngắt đoạn trong câu đòi hỏi phải
phù hợp với ý nghĩa, với tình tự của dân
gian, nên có đoạn dài, đoạn ngắn khác nhau, tùy
theo sự cảm xúc của nhà thơ, nhờ đó thi
phẩm được sống động, tình ý được
buông túng, lời thơ được hồn nhiên hơn.
C. Hình tượng và văn ảnh
Hình tượng
và văn ảnh là thành tố không kém phần quan trọng
trong cấu trúc thi ca truyền khẩu. Ngôn ngữ Việt
Nam lại là một ngôn ngữ vận dụng rất
nhiều hình tượng và văn ảnh trong các câu
chuyện thường ngày giữa dân gian với nhau, như:
theo đòi "bút nghiên", tình "chăn gối", tay
"dao búa ", bọn "đầu trâu mặt
ngựa", thân "bồ liễu", kiếp "giang
hồ", nợ "núi sông", lời "trăng
hoa", cuộc "bể dâu", đời "mưa
gió", "sửa túi nâng khăn", "cò bay thẳng
cánh", "treo dầu heo bán thịt chó", "ăn
cháo đá bát", "gảy đàn lỗ tai trâu"...
Hình tượng
và văn ảnh tạo ra những xúc cảm mãnh liệt
tối đa, để những cảm giác ấy sẽ
dẫn khởi tâm tư người nghe đến
những vấn đề cao rộng hơn, những
vấn đề liên hệ đến thân phận của
con người, đến hoài vọng nghìn năm của
cả một dân tộc. Ngôn ngữ Việt đã đưa
vào thơ truyền khẩu rất nhiều hình tượng,
văn ảnh, kể từ lối tỉ dụ, hoán
dụ thông thường nhất, lấy sự
vật nầy so sánh hay thay thế cho sự vật khác
(tỉ: so sánh; hoán: đổi, thế), như ở câu:
Khi nên, tay kiếm, tay cờ,
"Tay" là một bộ phận thay
thế cho toàn thể là "con người". "Tay
kiếm, tay cờ" thay thế cho "con người có
uy quyền, chức phận".
Cha còn gót đỏ như son,
"Gót đỏ, gót đen" là lấy hậu quả của
cuộc đời sung sướng, cuộc đời
khổ sở.
Cho đến lối ẩn dụ là một tỉ dụ khó nhận
thấy (ẩn: che đậy) dùng cách ghép các hình tượng
so sánh để hội nhập lại thành một văn
ảnh.
Mua kim đi chọn lưỡi câu,
Mua lưỡi
câu để may, mua giống bầu để trồng bí!
Qua ẩn dụ nầy, người nghe ngầm hiểu
rằng người con gái dụng ý chê người con trai đã
lầm lẫn trong khi đi
chọn lựa lứa đôi. Có phần khác với
"hình tượng", "văn ảnh", theo André Breton,
là một sáng tạo của trí óc thuần túy. Văn
ảnh không thể phát sinh từ một sự so sánh
giữa hai sự vật tương tự, mà từ
một sự đưa hai thực tại xa cách nhau đến
gần sát lại với nhau. Mối liên hệ giữa hai
thực tại càng xa cách, càng chính xác, thì văn ảnh càng
mãnh liệt... càng có nhiều cường lực xúc
cảm, càng có nhiều thực chất thi vị hơn
" (16). Chẳng hạn như ở bài ca dao sau đây:
Rú rừng thì có hươu mang,
Sự vật chính muốn trình bày không
thấy nói rõ ra. Người nghe, người đọc
phải suy đoán để hiểu. Nhưng mỗi người
có thể suy đoán một cách khác nhau. Riêng phần chúng
tôi, thì xin hiểu những câu nầy như sau: Trước
khi gặp nhau, trong sinh họat mưu sinh hằng ngày, trai
cũng như gái đã có bao nhiêu dịp được
gặp gỡ nhau trong rừng, dưới suối, trên một
chuyến đò, giữa một phiên chợ..., và đã có
bao nhiêu mối tình ngắn ngủi, thoáng qua. Những hình
ảnh song đôi "hươu mang, măng giang",
"đò dọc, đò ngang", "chợ búa, mụ bán
hàng" và các môi trường
"rừng rú, khe suối, đò đưa, chợ
búa", hội nhập lại thành bao nhiêu hình tượng
nói lên các cuộc dan díu ngắn ngủi ấy. Nhưng hôm
nay, chàng trai và cô gái gặp nhau được, quyết tình
xây dựng lâu dài, thì "ai mô rồi trả nấy",
chấm dứt với những mối tình bốc đồng,
thoáng qua ngày xưa. Các hình ảnh "hươu mang
trả lại cho rú rừng, măng giang trả lại cho
khe suối", đò giọc trả lại đò ngang,
chợ búa trả lại mụ bàn hàng, hai tiếng trả
lại được lặp tới lặp lui để
nhấn mạnh vào ý định muốn thanh toán tình
cảm với quá khứ một cách sòng phẳng và dứt
khoát. Toàn bài là một văn ảnh giúp cho chàng trai hay cô gái
kia có thể trình bày với nhau một cách kín đáo về điều
kiện tiên quyết trước khi lấy nhau là
"cả đôi bên phải đoạn tuyệt với
tất cả các mối tình nhăng nhít của mình trong
dĩ vãng". Đó là điều, mà ở thời xưa,
giữa trai gái mới quen nhau, khó mà có thể nói trắng
trợn ra được.
Và ta có thể hiểu thế nào qua
mấy câu dưới đây ?
Đố ai biết lúa mấy cây,
Sự
liên hệ giữa các thực tại trong mấy câu nầy
vừa phức tạp vừa xa cách nhau làm cho người
nghe, mỗi người có thể hiểu một cách, như:
"Trời sinh ra gió thì phải thổi, cũng như
Trời sinh ra con người thì phải yêu thương. Lá
rụng là hậu quả của gió thổi, cũng như đau
khổ, mất mát là hậu quả của tình yêu! Khuyên được
loài người đừng yêu thương, cũng
giống như đếm số cây lúa, đếm khúc sông,
đếm từng mây, quét sạch lá trong rừng, là
những điều không thể làm được. Mà đố
ai làm được, thì tôi sẽ bảo những kẻ
yêu thương ở đời nầy đừng đau
khổ nữa!"
Nhưng
cũng có người hiểu câu ca dao nầy một cách
khác hơn: "Gió thổi làm
cho lá phải rụng cũng như miệng tiếng người
đời đã làm cho bao nhiêu tình yêu phải bị lung lay.
Đố ai ngăn chận được miệng
tiếng người đời! Đó là việc khó làm được
(cũng như như đếm lúa, đếm khúc sông, đếm
tầng mây, hay quét sạch lá rừng). Miệng tiếng người
đời tất nhiên không ngăn chận được...
vậy cứ mặc cho gió rung gió thổi, làm xao xuyến,
lung lay... song (hiểu ngầm rằng) "rung sao cho
chuyển lòng anh với nàng!" -- một bài ca dao khác mà
nhiều người đã biết:
Trên trời có đám mây xanh,
Về hai câu chót, người nghe có thể suy đoán khác nhau:
Có người
cho rằng "lông mày cô gái sắc lắm có thể đâm
chết cá của mình, cho nên chàng trai mới bảo cô gái đừng
rửa ở hồ ấy". Nói như thế để
ngụ ý khen mắt cô gái đẹp, sắc bén, tình tứ
lắm...
Mà cũng có người cho rằng hình ảnh cô gái rửa
lông mày cho phép ta nghĩ là cô ấy khóc. Khóc, nước
mắt ràn rụa, nên đến rửa lông mày tại
hồ nầy. Vì sao mới lấy chồng mà khóc? Nếu
khóc vì nhớ cha mẹ, nhớ gia đình, thì chàng trai đến
an ủi, nựng dỗ, sao lại cấm đoán? Có
phải là cô ta khóc vì nhớ ai khác không? Nói trắng ra, chàng
trai mượn hình ảnh nầy để nói với cô
gái rằng: "Anh cưới em về nưng niu như
thế, thì em đừng nhớ thương những tình
cũ nghĩa xưa mà than lén khóc thầm, làm cho chết
cả lòng anh", (chết cá ao anh).
Thật ra, một thi phẩm không bao giờ chỉ có một ý
nghĩa đơn độc, mà thường có nhiều
ngụ ý ẩn dụ khác nhau. Văn hào Pháp, Paul Valéry, đã
từng cảnh cáo rằng: "Đây là một sai lầm
phản lại tính chất của thơ, đến có
thể giết chết thơ đi, khi ta khẳng định
rằng mỗi một thi phẩm chỉ tương
ứng với một ý nghĩa đúng thật, độc
nhất và phù hợp hay đồng nhất với một
ý tưởng của tác giả mà thôi". (17)
"Ẩn
dụ" là một đặc tính cố hữu của
dân tộc ta. Ngày xưa, dân gian ít khi nói rõ ràng (trắng
trợn) tình cảm, ý nghĩ của mình ra, trái gái tỏ
tình với nhau cũng chỉ nói gần, nói xa, dùng những
hình ảnh so sánh, hoán dụ, nhất là "ẩn
dụ" mà thôi. Nói như thế, ai muốn hiểu
thế nào thì hiểu. Tôn trọng sự tự do suy
luận của người nghe. Nếu hiểu đúng
với tâm sự mình thì đó thật là "tri âm tri
kỷ", như Bá Nha và Chung Tử Kỳ ngày xưa! Còn
không, thì cũng chỉ vì không có duyên nợ
với nhau thôi, có tiếc cho lắm cũng chẳng biết làm sao!
Tóm lại, ở đây
tính chất thi ca của ca dao và dân ca Việt chỉ được
phơi bày dưới một khía cạnh nhỏ của
ngôn ngữ học, khía cạnh của một "ngôn
ngữ-ký ức". Chỉ dưới một khía
cạnh nhỏ ấy thôi, cũng đủ cho chúng ta
nhận chân được gia tài "giàu sang" mà ông cha
chúng đã lưu lại cho con cháu: một kho vô tận
của những tiếng kép đôi, với ngữ thuật
xen kẻ kép đôi thành những câu thơ cân đối
nhịp nhàng, hội nhập với bao nhiêu âm vận, âm
thanh dồi dào, quyến rủ, đầy nhạc tính,
bản thể cố hữu của thi ca. Cũng đủ
cho ta thấy ông cha ta từ xưa đã biết vận
dụng những "câu
hứng", những câu khai mào, rao bản, những
"câu thơ vô nghĩa" mà một số nhà thơ Tây
phương, trước thực tại bế tắc trong
thi đàn hiện nay của họ, đã phải lên
tiếng thú nhận rằng: " Sự vô-nghĩa đã
trở thành một trong những phương sách cứu vãn
ưu tiên cho thi ca hiện đại" (18).
Và cũng đủ cho chúng ta nhận chân điểm đặc
sắc của ngôn ngữ Việt là rất "giàu
sang" không những về hình tượng, mà còn về văn
ảnh, mà theo một nhà phê bình Pháp, "văn ảnh có
khuynh hướng trở thành một dấu hiệu đặc
trưng của thi ca hiện đại." (19)
Nếu cho rằng thi ca truyền
khẩu Việt Nam vốn có bản chất thơ và ít
nhiều tính chất hiện đại, tưởng không
phải là một khẳng định thậm xưng.
Sở
dĩ thi ca truyền khẩu của ta có được giá
trị gì nghệ thuật, văn hóa đáng kể,
phần nào cũng nhờ tập quán "hát, hò" cố
hữu của dân tộc Việt Nam để bày tỏ
tình ý của mình mà ứng xử trong mọi hoàn cảnh
của cuộc sống hằng ngày trong gia đình, cũng
như ngoài xã hội. Ông cha chúng ta ngồi buồn cũng
hát, ru con cũng hát, dỗ con chơi cũng hát, trai gái
chọc ghẹo nhau cũng hát, tỏ tình giao duyên với
nhau cũng hát, thương yêu nhau cũng hát, nhớ nhung,
giận dỗi, buồn rầu, thất vọng... cũng
hát, làm ruộng cũng hát, giả gạo cũng hát, chèo đò
cũng hát, cúng lễ, lên dồng cũng hát, đánh bài
(chòi) cũng hát, cuối cùng đưa đám ma ra nghĩa địa
cũng hát. Thậm chí, (cũng vào thời xưa), thiên
hạ chửi rủa mắng mỏ nhau, cũng thành câu có
vần có điệu như là hát. Cho nên thói quen hò hát, các ý
thức vần điệu nhịp nhàng đã thành như
một bản tính tự nhiên của con người
Việt nam từ ngàn xưa:
Đố ai nằm võng không đưa,
(1) Paul Valéry, Propos sur la Poésie,
1927, (repris dans Variété) cité par Jean-Louis Joubert, dans La poésie,
Armand Colin, Paris, 1992, trang 53: (Le langage dont je viens de me servir, qui
vient d'exprimer mon dessein, mon désir, mon commandement, mon opinion, ma
demande ou ma réponse, ce langage qui a rempli son office, s'évanouit à peine
arrivé. Je l'ai émis pour qu'il périsse, pour qu'il se transforme
irrévocablement en vous.... Si vous avez compris mes paroles, mes paroles mêmes
ne vous sont plus rien; elles ont disparu de vos esprits, cependant que vous
possédez leur contre-partie, vous possédez, sous forme d'idées et de relations,
de quoi restituer la signification de ces propos, sous une forme qui peut être
différente.).
(2) Paul Zumthor, Introduction à la poésie
orale , Paris, Seuil, 1983, trang 59 (On peut douter qu'il exista jamais
dans l'histoire une culture dépourvue de poésie orale.).
(3) Jean-Louis Joubert, La poésie , Paris,
Armand Colin, 1992, trang 13: (Quand l'écriture n'existe pas, on a recours à la
poésie pour fixer et pérenniser ce que disent ou pensent les hommes...
L'oralité conserve aussi bien, parfois mieux que l'écriture... Etant un
langage-mémoire, elle suscite une forme qui protège, conserve et transmet.).
(4) Paul Zumthor, Introduction à la poésie
orale, s.đ.d., trang 80 (Le fonctionnement de la mémoire collective
détermine le mode de structuration poétique. Le poème y apparaît
"relecture" plutôt que "création".).
(5) Nguyễn Trúc Phượng, Việt
Nam Văn Học Bình Dân, Khai Trí, Saigon 1970, Xuân Thu tái
bản, California, Hoa Ky, năm ?, trang 101.
(6) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
Inspiration, trang 29.
(7) Paul Verlaine, Jadis et naguère
"Pantoum négligé", 1884: "Trois petits pâtés, ma chemise
brûle./ Monsieur le curé n'aime pas les os./ Ma cousine est blonde, elle a nom
Ursule./ Que n'émigrons-nous vers les Palaiseaux!".
(8) Paul Valéry, Poésie et pensée abstraite,
1939, repris dans Variété, cité par J.-L. Joubert dans La poésie, s.đ.d.,
trang 54 (Un poète... n'a pas pour fonction de ressentir l'état poétique: ceci
est une affaire privée. Il a pour fonction de le créer chez les autres.).
(9) Paul Zumthor, Introduction à la poésie
orale , s.đ.d., trang 80-81 (Pour cette raison même, la poésie orale
comporte généralement plus de règles, et plus complexe, que l'écrite: dans les
sociétés à forte prédominance orale, elle constitue souvent un art beaucoup
plus élaboré que la plupart des produits de notre écriture.).
(10) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
trang 14: (La composition se calque sur les rythmes du corps; la scansion
épouse la respiration. Des procédés simples où le gestuel et le linguistique se
superposent - séries de balancements et de contre-balancements, de répétitons
et d'antithèses, de symétries et d'inversions, de parallélismes et d'assonances,
etc... - facilitent le travail de la mémorisation et assurent la connivence de
l'auditoire, en même temps qu'ils permettent la création par la jeu de variations à l'infini. Cette
inscription de la poésie dans les gestes et le corps perdure même lorsqu'on
s'éloigne de l'oralité. C'est elle qui fonde le rythme, par quoi la poésie se
distingue d'autres formes de langage.).
(11) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
trang 110: (Le parallélisme est une notion récente qui n'intéresse guère la
rhétorique classique. Quand Malherbe traduit les Psaumes, il semble ne pas voir
que la poésie biblique se fonde sur parallélismes et il ne cherche guère à les
restituer en français.).
(12) Bình-Nguyên
Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt
Nam, Xuân Thu, Saigon, 1971, tái bản California, Hoa kỳ, năm ?, Chi Âu, chi Lạc,
trang 307-319.
(13) Paul Valéry, Passage de Verlaine,
1921, in Variété (La poésie est l'ambition d'un discours qui soit chargé de
plus de sens et mêlé de plus de musique que le langage ordinaire n'en porte et
n'en peut porter.).
(14) Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể , Hà Nội,
năm 1932, trang 25.
(15) Hoài
Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, 1942, Nhà xb Hànội tái
bản, 1988, trang 41, bị chú số 1 cùng trang.
(16) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
trang 45, 46: (C'est dans le Premier
manifeste qu'André Breton propose une définition de l'image, reprise
d'ailleurs de Pierre Reverdy: "L'image est une création pure de l'esprit.
Elle ne peut naître d'une comparaison mais du rapprochement de deux réalités
éloignées. Plus le rapport de deux réalités seront lointaines et justes, plus
l'image sera forte..., plus elle aura de puissance émotive et de réalité
poétique.).
(17) Paul Valéry, Commentaire des
"Charmes", 1929 (repris dans Variété).cité par Jean-Louis
Joubert, La poésie, s.đ.d., trang 52: (C'est une erreur contraire à
la nature de la poésie, et qui lui serait même mortelle, que de prétendre qu'à
tout poème correspond un sens véritable unique, et conforme ou identique à
quelque pensée de l'auteur.).
(18) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
Poésie et révolution, trang 58 (Le non-sens est devenu l'un des recours
privilégiés de la poésie contemporaine.).
(19) Jean-Louis Joubert, La poésie, s.đ.d.,
trang 45 (L'image tend à devenir signe distinctif de la poésie moderne.).
|